Chứng phù nề là do chất lỏng dư thừa bị kẹt dưới lớp mô, bàn tay ,trên mặt cánh tay, mắt cá chân và bàn chân. Phù nề còn xảy ra sau khi mang thai,dùng thuốc, mắc bệnh suy tim, bệnh thận hay xơ gan, cùng tìm hiểu chứng phù nề tĩnh mạch ở bài viết này.

Phù nề tĩnh mạch là gì?

Đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu xem tĩnh mạch là gì và các cơ quan liên quan để tìm hiểu sâu hơn về chức năng của chúng từ đó sẽ tìm hiểu sâu hơn vào chứng phù nề tĩnh mạch còn khá lạ đối với nhiều người. Bách khoa toàn thư mở  có thể biết, tĩnh mạch được định nghĩa là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể con người, mạch máu này sẽ dẫn máu trở về tim.  Động mạch với tĩnh mạch có dòng máu chảy ngược lại, nếu tĩnh mạch đưa máu trở về tim thì động mạch lại đưa máu đi ra trong cơ thể. Trong quá trình tĩnh mạch hoạt động đưa máu trở về tim thì oxi trong tĩnh mạch sẽ thấp hơn so với bình thường đã thấy. Tuy nhiên, tĩnh mạch rốn và tĩnh mạch phổi lại đặc biệt hơn các tĩnh mạch khác đó là chúng có lượng dưỡng khí cao hơn trong cơ thể

Cấu tạo của tĩnh mạch trong cơ thể người

Theo các chuyên gia y tế đầu ngành ở nước ta, tĩnh mạch có chức năng là đưa hồng máu kém dưỡng khí để trở về tim trong cơ thể.Trước tiên, máu từ tim được bơm ra và được đưa đến tâm thất trái, sau đó máu được động mạch đưa đến các bộ phận trong cơ thể và bắp thịt được lưu thông. Máu có cơ chế hoạt động là nhận khí CO2 và  nhả khí O2 mà chúng ta vẫn thường biết.

Tĩnh mạch hiển lớn, hiển bé và các nhánh

Phù nề tĩnh mạch hay còn được gọi là chứng suy giãn tĩnh mạch, đây là một thuật ngữ chỉ sự suy giảm khả năng đưa máu về tim của hệ thống tĩnh mạch trong cơ thể từ đó dẫn đến hiện tượng ứ đọng gây ra những biến đổi nghiêm trọng về huyết động và biến đổi các mô tổ chức xung quanh ta. Sau đó, theo tĩnh mạch máu sẽ được trở về tim, đến tâm nhĩ phải rồi qua tâm thất phải, tiếp đến máu sẽ được bơm qua hai lá phổi trong cơ thể. Sau khi máu từ phổi trở về tâm nhĩ trái và tâm thất trái thì huyết lưu tuần hoàn được hoàn tất một quy trình.

Tĩnh mạch vô cùng quan trọng đối với cơ thể con người chúng ta vì ngoài chức năng vận chuyển máu trở về tim thì tĩnh mạch còn có chức năng quan trọng nữa là điều hòa nhiệt độ cơ thể và lưu trữ máu trong cơ thể. Khi thay đổi thời tiết, nhiệt độ tăng lên sẽ gây ra hiện tượng giãn tĩnh mạch, khi đó bề mặt da sẽ được làm mát do tĩnh mạch hút được nhiều máu hơn bình thường.

Dưới bề mặt lớp da thường có các tĩnh mạch chạy qua để gom góp tất cả lượng  máu được gọi là hệ tĩnh mạch nông. Sau đó tĩnh mạch xuyên sẽ đưa máu di chuyển đến tĩnh mạch sâu sau đó. Các cơ của cơ thể sẽ thực hiện hoạt động bơm để vận chuyển máu từ tĩnh mạch sâu về tim trong cơ thể.Từ cơ chế hoạt động trên ta có thể thấy thường xuyên vận động là việc cần thiết và quan trọng đối với cơ thể vì nó tạo điều kiện thuận lợi để đưa máu trở về tim trong cơ thể. Mỗi khi hoạt động ở chân như chạy, đi bộ, đạp xe,…các cơ sẽ nở ra và tạo điều kiện để tĩnh mạch đưa máu trở về tim rất lớn. Ngược lại, lúc chân ngừng hoạt động thì máu sẽ chảy ngược xuống chân theo chiều trọng lực thẳng, khi đó phải cần đến tĩnh mạch hoạt động. Do vai trò cực kì quan trọng mà cenae cấp trên và kém hơn trong lưu thông, các vấn đề phát sinh với các tĩnh mạch lớn này có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng như là bệnh phù nề tĩnh mạch

Các tĩnh mạch có thành tương đối mỏng ,hệ thống tĩnh mạch là một hệ thống áp suất thấp trong cơ thể, cả hai venae cavae đều bị nén bởi các mô xung quanh sưng lên trông thấy. Sự nén này ức chế lưu lượng máu và tác động đến chức năng tim thích hợp hơn. Sự phát triển của cục máu đông trong tĩnh mạch chủ cũng có thể cản trở hoặc ngăn chặn máu quay trở lại tim trong cơ thể. Hội chứng tĩnh mạch chủ trên là một tình trạng nghiêm trọng phát sinh từ tắc nghẽn hoặc sự co thắt của tĩnh mạch này hay phù nề tĩnh mạch. 

Các tĩnh mạch chủ cao cấp có thể bị tắc nghẽn này do sự mở rộng của các mô hoặc mạch xung quanh như tuyến ức, tuyến giáp, động mạch chủ, mô ung thư ở khu vực của ngực và phổi, hạch bạch huyết. Sưng có thể làm chậm hoặc cản trở lưu lượng máu đến tim trong cơ thể. Hội chứng tĩnh mạch chủ trên thường gây ra bởi ung thư phổi và ung thư hạch trong cơ thể. 

Hội chứng tĩnh mạch chủ dưới được gây ra bởi sự chèn ép hoặc tắc nghẽn của tĩnh mạch chủ dưới. Tình trạng này kết quả thường xuyên nhất từ ​​các khối u, huyết khối tĩnh mạch sâu, suy tim sung huyết, bệnh thận và mang thai. Cần lưu ý những dấu hiệu trên để hiểu biết rõ về bệnh phù nề tĩnh mạch để có những biện pháp kịp thời đảm bảo sức khỏe của mọi người.

1900 63 69 13